Trong quá trình vận hành doanh nghiệp, việc thay đổi vốn điều lệ là vấn đề xảy ra khá phổ biến. Có doanh nghiệp cần tăng vốn để mở rộng hoạt động, nhưng cũng có không ít doanh nghiệp buộc phải giảm vốn điều lệ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Đây cũng là nỗi băn khoăn của rất nhiều nhà sáng lập trong giai đoạn điều hành doanh nghiệp, đặc biệt với các công ty TNHH khi:
Quy mô hoạt động bị thu hẹp;
Doanh nghiệp không còn nhu cầu sử dụng lượng vốn lớn như ban đầu;
Vốn điều lệ đăng ký vượt quá khả năng tài chính thực tế;
Thành viên muốn rút vốn khỏi công ty;
Hoặc doanh nghiệp cần tái cấu trúc lại tổ chức.
Tuy nhiên:
Doanh nghiệp có được phép giảm vốn điều lệ đã đăng ký hay không? Thành viên chưa góp đủ vốn có phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty không? Thành viên muốn rút vốn thì công ty có bắt buộc phải mua lại không?
Đây là những vấn đề pháp lý rất quan trọng mà doanh nghiệp cần hiểu rõ để tránh rủi ro trong quá trình hoạt động. Doanh nghiệp có được giảm vốn điều lệ không? So với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã có nhiều quy định cởi mở hơn nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Theo đó, công ty TNHH hoàn toàn có thể giảm vốn điều lệ nhưng phải đáp ứng đúng các điều kiện luật định. Không phải doanh nghiệp muốn giảm vốn lúc nào cũng được giảm, bởi vốn điều lệ không chỉ liên quan đến:
Tỷ lệ sở hữu của các thành viên;
Quyền lợi và nghĩa vụ tài chính;
Mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi của chủ nợ, đối tác và người lao động.
Tình huống thực tế: Công ty TNHH ABC Công ty TNHH ABC đăng ký vốn điều lệ ban đầu là 10 tỷ đồng. Các thành viên gồm:
Ngọc;
Lan;
Hùng;
Mai.
Đến tháng 9/2019:
Ngọc, Lan và Hùng đã góp đủ vốn theo cam kết;
Riêng Mai mới chỉ góp được 200 triệu đồng.
Câu hỏi đặt ra là:
Công ty có được giảm vốn điều lệ xuống còn 9,2 tỷ đồng hay không?
Có bị xử phạt do chưa góp đủ vốn không?
Mai có phải chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ tài chính phát sinh của công ty không?
Thời hạn góp vốn trong công ty TNHH là bao lâu? Theo Luật Doanh nghiệp:
Thành viên công ty TNHH phải góp đủ phần vốn cam kết trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Quy định này áp dụng cho cả:
Công ty TNHH;
Công ty cổ phần thành lập mới từ ngày 01/07/2015.
Nếu hết thời hạn 90 ngày mà:
Thành viên chưa góp đủ vốn;
Hoặc không góp đúng loại tài sản đã cam kết;
… thì doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ. Không góp đủ vốn có bị xử phạt không? Câu trả lời là: Có. Nếu doanh nghiệp:
Không góp đủ vốn như đã đăng ký;
Không điều chỉnh giảm vốn điều lệ đúng quy định;
… thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật. Ngoài việc bị xử phạt, doanh nghiệp còn có nguy cơ:
Mất uy tín với đối tác;
Bị đánh giá sai năng lực tài chính;
Gặp khó khăn khi vay vốn hoặc ký kết hợp đồng.
Thành viên chưa góp đủ vốn có phải chịu trách nhiệm không? Đây là điểm rất nhiều doanh nghiệp hiểu chưa đúng. Thông thường:
Thành viên công ty TNHH chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp.
Tuy nhiên:
Nếu thành viên chưa góp đủ vốn như đã cam kết thì vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp.
Điều này đồng nghĩa:
Dù Mai mới chỉ góp 200 triệu đồng nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đã cam kết góp vào công ty.
Đây là cơ chế nhằm bảo vệ:
Đối tác;
Chủ nợ;
Người lao động;
Và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động doanh nghiệp.
Thành viên muốn rút vốn: Công ty có bắt buộc phải mua lại không? Trong tình huống trên, Lan muốn rút 20% phần vốn góp vì cho rằng các thành viên khác không minh bạch tài chính. Giám đốc công ty đã họp Hội đồng thành viên và đưa ra các phương án:
Lan chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác;
Hoặc công ty mua lại phần vốn góp.
Tuy nhiên:
Công ty không đủ khả năng tài chính để mua lại;
Lan cũng không tìm được người nhận chuyển nhượng.
Vậy công ty có bắt buộc phải mua lại phần vốn của Lan hay không? Công ty TNHH chỉ được giảm vốn trong 3 trường hợp Theo Luật Doanh nghiệp, công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ được giảm vốn điều lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên Điều kiện:
Công ty đã hoạt động liên tục từ 2 năm trở lên;
Đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản sau khi hoàn trả vốn.
Trong tình huống này:
Công ty mới thành lập từ tháng 1/2019;
Đến tháng 9/2019 chưa đủ 2 năm hoạt động;
=> Không đủ điều kiện giảm vốn theo hình thức này. 2. Công ty mua lại phần vốn góp của thành viên Thành viên chỉ có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp nếu:
Đã bỏ phiếu không tán thành nghị quyết về:
Sửa đổi Điều lệ;
Tổ chức lại công ty;
Hoặc các vấn đề quan trọng khác theo luật định.
Đồng thời:
Yêu cầu mua lại phải gửi bằng văn bản;
Trong thời hạn luật quy định.
Trong trường hợp của Lan:
Không thuộc trường hợp bắt buộc công ty phải mua lại vốn góp.
Do đó:
Việc công ty có mua lại hay không hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên.
Nhưng thực tế:
Công ty không đủ năng lực tài chính; => Phương án này không khả thi.
- Thành viên không góp đủ vốn đúng hạn Trường hợp này áp dụng với thành viên chưa góp đủ vốn cam kết. Tuy nhiên:
Lan đã góp đủ vốn; => Không thuộc trường hợp giảm vốn này.
Vậy Lan phải làm gì để rút vốn? Trong trường hợp trên, giải pháp phù hợp nhất là:
Lan chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên còn lại;
Hoặc chuyển nhượng cho người khác nếu các thành viên công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn luật định.
Cho đến khi:
Thông tin người nhận chuyển nhượng được cập nhật đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên;
… thì Lan vẫn:
Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ liên quan đến phần vốn góp của mình trong công ty.
Kết luận Giảm vốn điều lệ trong công ty TNHH không phải là thủ tục đơn giản và doanh nghiệp không thể tự ý thực hiện nếu không đáp ứng đúng điều kiện pháp luật. Đặc biệt:
Thành viên chưa góp đủ vốn vẫn phải chịu trách nhiệm theo phần vốn cam kết;
Thành viên muốn rút vốn không phải lúc nào cũng được công ty mua lại;
Và việc đăng ký “vốn ảo” có thể kéo theo rất nhiều rủi ro pháp lý, tài chính và quản trị.
Vì vậy, trước khi thành lập doanh nghiệp, các nhà sáng lập cần:
Cân nhắc kỹ năng lực tài chính thực tế;
Xây dựng cơ cấu vốn phù hợp;
Thống nhất rõ cơ chế góp vốn và rút vốn ngay từ đầu.
Bởi trong quản trị doanh nghiệp:
Đăng ký vốn điều lệ dễ, nhưng xử lý hậu quả của việc đăng ký không phù hợp mới là điều khó khăn nhất.